Mệnh ngũ hành dùng khi chọn tranh thường tính theo năm sinh âm lịch, nên người sinh vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch phải kiểm lại xem mình đã qua Tết của năm đó chưa. Tranh treo ở không gian chung thường xét theo mệnh người chủ gia đình, còn tranh trong phòng riêng thì xét theo người dùng phòng.
Khách đến xưởng hay nói "em mệnh Kim" một cách chắc chắn, rồi lúc ngồi nói chuyện mới lộ ra mình sinh tháng 1 dương lịch, trước Tết. Thế là cả bảng màu đổi theo. Chuyện này xảy ra thường đến mức thợ quen hỏi thêm ngày sinh trước khi bàn màu đá.
Mệnh tính theo năm âm lịch, không theo năm dương lịch
Mệnh ngũ hành mà phần lớn người Việt nói tới là mệnh nạp âm, gắn với năm sinh theo lịch âm, chu kỳ 60 năm gọi là lục thập hoa giáp. Mỗi cặp hai năm liền nhau chung một nạp âm, như Hải Trung Kim, Lư Trung Hoả, Đại Lâm Mộc, và hành ở cuối tên là cái người ta dùng để chọn màu.
Năm âm lịch bắt đầu từ mùng Một Tết, mà Tết thường rơi vào cuối tháng 1 hoặc trong tháng 2 dương lịch. Người sinh trong khoảng đầu năm dương lịch trước Tết vẫn thuộc năm âm lịch cũ. Hai người cùng sinh năm 1990 dương lịch, một người sinh tháng 1 trước Tết, một người sinh tháng 5, có thể mang hai mệnh khác nhau.
Cách kiểm đơn giản là tra lịch vạn niên năm mình sinh, xem ngày mùng Một Tết rơi vào ngày dương lịch nào. Nhiều trang và ứng dụng lịch có sẵn chức năng đổi ngày; nhập ngày sinh dương lịch là ra ngày âm và năm can chi.
Không cần thuộc lòng bảng 60 năm. Chỉ cần biết hành của mình là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả hay Thổ, rồi đối chiếu bảng màu là đủ để chọn tranh.
Nạp âm, cung phi và vì sao hai thầy nói hai kiểu
Mệnh nạp âm tính theo năm sinh. Nam nữ cùng năm sinh có cùng mệnh nạp âm; đây là cách phổ biến nhất khi nói "mệnh Kim, mệnh Mộc".
Cung phi trong phong thuỷ bát trạch tính theo năm sinh và giới tính. Nam nữ cùng năm có thể khác cung, và mỗi cung cũng gắn với một hành.
Hai hệ cho hai kết quả khác nhau. Một người có thể mệnh nạp âm là Thổ nhưng cung phi thuộc Kim; đó là lý do hai người tư vấn mỗi người nói một kiểu.
Chọn màu tranh thường theo mệnh nạp âm. Còn chuyện hướng nhà, hướng bàn thờ hay được xét theo cung phi.
Không cần chiều cả hai hệ cùng lúc. Cố tìm màu hợp cả hai dễ dẫn tới bức tranh kỳ quặc; chọn một hệ mình tin và theo nó.
Tên nạp âm dài có ý nghĩa hình tượng. Như "Đại Hải Thuỷ" là nước biển lớn, "Sơn Hạ Hoả" là lửa dưới chân núi; nhiều người thích chọn đề tài tranh theo hình tượng đó.
Có người xem cả ngày giờ sinh. Đó là phần của tử vi, bát tự, sâu hơn nhiều; với việc chọn tranh treo nhà, năm sinh là đủ.
Tra ở nguồn rõ ràng. Lịch vạn niên, sách lịch có ghi can chi; đừng tin bảng chụp màn hình không nguồn, có khi sai năm.
Tranh treo chung thì xét mệnh của ai?
Theo cách làm phổ biến, tranh treo ở phòng khách, sảnh, cửa chính xét theo mệnh người chủ gia đình, thường là người đứng tên hoặc người gánh vác chính. Nhưng "gia chủ" trong gia đình hiện đại không phải lúc nào cũng rõ: nhà hai vợ chồng cùng làm, nhà ông bà sống cùng con cháu, nhà người mẹ đơn thân.
Ở xưởng, thợ thường hỏi khách một câu đơn giản: trong nhà ai là người quyết những việc lớn, và ai là người ở nhà nhiều nhất. Nếu hai câu ra hai người khác nhau, có thể chọn tranh hài hoà cho cả hai thay vì cố theo một người. Cách dung hoà khi vợ chồng khác mệnh là một đề tài riêng.
Tranh trong phòng ngủ, phòng làm việc riêng thì đơn giản hơn: xét theo người dùng phòng. Phòng của con xét theo con, phòng ông bà xét theo ông bà. Tranh phòng thờ thì ít ai xét mệnh, vì đó là không gian của tổ tiên chung.
Với văn phòng, cửa hàng, nhiều người xét theo mệnh người đứng đầu hoặc chủ cửa hàng. Doanh nghiệp nhiều cổ đông thì chọn đề tài trung tính như sơn thuỷ, vốn có đủ các hành trong một bức, là cách tránh tranh luận.
Các bước từ ngày sinh tới màu tranh
Làm theo thứ tự, mất chừng mười phút.
- Lấy ngày sinh dương lịch. Của người sẽ xét mệnh, theo giấy tờ.
- Đổi sang năm âm lịch. Đặc biệt kiểm nếu sinh trong tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch.
- Tra mệnh nạp âm của năm âm đó. Lấy hành ở cuối tên nạp âm.
- Xác định màu bản mệnh và màu tương sinh. Đối chiếu bảng màu ngũ hành.
- Xác định màu nên tiết chế. Màu của hành khắc mình, dùng làm điểm nhấn nhỏ chứ không cần bỏ hẳn.
- Chọn đề tài trước, màu sau. Có đề tài mình thích, rồi yêu cầu xưởng nghiêng tông đá về màu hợp.
- Đặt cạnh màu tường và nội thất. Màu hợp mệnh mà không hợp phòng thì vẫn nên chỉnh.
Những tình huống hay gặp
Không nhớ giờ, chỉ nhớ năm sinh. Đủ để xem mệnh nạp âm; giờ sinh không cần cho việc chọn tranh.
Ngày sinh trên giấy tờ khác ngày sinh thật. Chuyện thường ở thế hệ trước; nhiều người chọn theo ngày sinh thật mà gia đình nhớ.
Mua tranh tặng mà không biết mệnh người nhận. Chọn đề tài sơn thuỷ, phong cảnh nhiều màu, hoặc hỏi khéo qua người thân.
Hai vợ chồng tương khắc. Có cách dung hoà bằng màu trung gian theo vòng tương sinh; đừng vì thế mà không treo tranh.
Người tư vấn nói mệnh khác mình đã biết. Hỏi lại họ dùng hệ nào (nạp âm hay cung phi) và tính theo năm âm nào.
Gia chủ không tin phong thuỷ. Chọn theo sở thích; một bức tranh đẹp mà người ở nhà thích nhìn đã đủ ý nghĩa.
Ông bà muốn theo mệnh, con cháu muốn theo gu. Chọn đề tài ông bà thích, tông màu hợp mệnh, khung và kích thước theo gu nội thất của con cháu.
Câu hỏi thường gặp
Sinh tháng 1 dương lịch thì tính mệnh năm nào?
Nếu sinh trước mùng Một Tết của năm đó thì thuộc năm âm lịch trước. Tra lịch vạn niên để biết Tết năm mình sinh rơi vào ngày dương lịch nào.
Mệnh nạp âm và cung mệnh khác nhau thế nào?
Mệnh nạp âm tính theo năm sinh âm lịch, giống nhau cho nam và nữ cùng năm. Cung phi bát trạch tính theo năm sinh và giới tính, hay dùng để xét hướng nhà.
Chọn tranh treo phòng khách theo mệnh chồng hay vợ?
Theo cách làm phổ biến là theo người chủ gia đình. Nếu khó phân định, chọn tranh có màu dung hoà cho cả hai.
Không biết năm sinh người nhận thì tặng tranh đá thế nào?
Chọn đề tài trung tính có nhiều màu như sơn thuỷ, phong cảnh. Đây cũng là đề tài dễ treo ở hầu hết không gian.
Có cần xem cả ngày giờ sinh để chọn tranh không?
Không cần. Với việc chọn tranh treo nhà, năm sinh âm lịch đã đủ cho cách xem phổ biến.