Các đề tài tranh đá quý truyền thống thực chất là những lời chúc được vẽ bằng hình: ngựa chúc thành công nhanh, cá chúc dư dả, thuyền buồm chúc suôn sẻ, tùng hạc chúc sống lâu, mẫu đơn chúc giàu sang, còn sen và bộ tứ quý nói về phẩm cách con người. Phần lớn ý nghĩa đến từ lối chơi chữ đồng âm trong tiếng Hán và từ những tích xưa, rồi được người Việt tiếp nhận theo cách riêng.
Người mua tranh thường nghe ý nghĩa từ người bán, mỗi nơi kể một kiểu, có khi thêm thắt để bán được bức đắt hơn. Bài này gom lại thành một bảng tra để đối chiếu, giải thích vì sao một con vật hay một loài hoa lại mang ý nghĩa đó, và chỉ cách đọc ý nghĩa của một bức cụ thể qua số lượng, hướng và những vật đi kèm.
Một điều nói trước: ý nghĩa trong bài là cách hiểu văn hoá phổ biến, không phải lời hứa về may mắn. Chọn tranh vì thích lời chúc và thấy đẹp là đủ; không có đề tài nào làm ai gặp hạn.
Đề tài tranh đá quý đến từ đâu?
Tranh ghép đá là chất liệu khá mới so với lịch sử hội hoạ, nhưng đề tài của nó phần lớn kế thừa từ tranh truyền thống Á Đông: tranh thuỷ mặc, tranh Tết, hoa văn trên gốm sứ, đồ gỗ chạm khắc. Những hình ảnh ấy đã được dùng hàng trăm năm để gửi lời chúc trong nhà, nên khi chuyển sang chất liệu đá, ý nghĩa đi theo nguyên vẹn.
Có ba nguồn ý nghĩa chính. Thứ nhất là chơi chữ đồng âm: tên con vật, loài hoa đọc giống một chữ mang nghĩa tốt. Thứ hai là tích truyện: cá chép vượt vũ môn hoá rồng, chim hạc gắn với tiên và sự sống lâu. Thứ ba là đặc tính tự nhiên: cây tùng xanh quanh năm nên tượng trưng sự bền bỉ, trúc thẳng ruột rỗng nên tượng trưng người ngay thẳng khiêm nhường.
Người Việt tiếp nhận những ý nghĩa này qua nhiều đời và thêm vào hình ảnh của mình: cảnh làng quê, đồng lúa, con trâu, hoa sen trong ca dao. Vì vậy một bức tranh đá ở Việt Nam có thể vừa mang ý nghĩa gốc Hán vừa mang cảm xúc rất Việt.
Hiểu nguồn gốc giúp phân biệt ý nghĩa có cơ sở với lời thêm thắt. Một người bán nói “tranh này hút tài lộc gấp đôi” là đang bán lời hứa, không phải đang kể ý nghĩa.
Bảng tra ý nghĩa các đề tài phổ biến
Cột “hay chọn cho” là thói quen phổ biến, không phải quy tắc bắt buộc.
| Đề tài | Ý nghĩa thường được hiểu | Nguồn ý nghĩa | Hay chọn cho |
|---|---|---|---|
| Mã đáo thành công (đàn ngựa) | Thành công nhanh, tiến thủ | Thành ngữ gốc Hán | Văn phòng, khai trương, thăng chức |
| Cửu ngư quần hội (chín con cá) | Dư dả lâu dài, sum họp | Đồng âm ngư – dư, cửu – lâu | Phòng khách, phòng ăn, tân gia |
| Thuận buồm xuôi gió (thuyền) | Công việc suôn sẻ | Thành ngữ, hình ảnh chở hàng | Kinh doanh, khai trương |
| Cá chép vượt vũ môn | Học hành đỗ đạt, vượt khó | Tích cá chép hoá rồng | Phòng học, quà người đi thi |
| Tùng hạc | Sống lâu, khoẻ mạnh | Tùng xanh quanh năm, hạc gắn với tiên | Mừng thọ, phòng người lớn tuổi |
| Tứ quý (mai, lan, cúc, trúc) | Bốn mùa trọn vẹn, phẩm cách quân tử | Đặc tính từng loài cây | Bộ bốn bức, hành lang, phòng khách |
| Mẫu đơn | Phú quý, sung túc | Hoa được coi là vua các loài hoa | Phòng khách, quà tân gia |
| Hoa sen | Thanh cao, trong sạch | Ca dao, Phật giáo | Phòng trà, phòng đọc, phòng thờ |
| Chim công | Vẻ đẹp, sang trọng | Bộ lông rực rỡ | Phòng khách, sảnh |
| Đại bàng tung cánh | Chí lớn, tầm nhìn xa | Câu “đại triển hồng đồ” | Phòng giám đốc, văn phòng |
| Hổ | Uy dũng, trấn giữ | Chúa sơn lâm | Văn phòng, sảnh; cân nhắc trong nhà ở |
| Hươu | Lộc, may mắn | Đồng âm hươu (lộc) – lộc | Phòng khách, quà biếu |
| Đôi chim, đôi hạc | Vợ chồng hoà hợp | Hình ảnh có đôi | Quà cưới, phòng vợ chồng |
| Sơn thuỷ | Vững chãi, lưu thông | Núi là chỗ dựa, nước là dòng chảy | Phòng khách rộng, phòng giám đốc |
Một bức tranh có thể kết hợp nhiều đề tài: sen với cá, tùng với hạc và hươu, mẫu đơn với chim công. Khi đó ý nghĩa được cộng lại, và bức tranh mang một lời chúc đầy đủ hơn.
Lối chơi chữ đồng âm: chìa khoá đọc tranh
Phần lớn ý nghĩa “tài lộc” trong tranh đến từ việc tên một vật đọc giống một chữ tốt. Cá, chữ Hán đọc là “ngư”, giống chữ “dư” là dư thừa. Hươu, gọi theo chữ Hán là “lộc”, trùng âm với chữ “lộc” là bổng lộc. Sen là “liên”, trùng âm với chữ “liên” là liền nối. Số chín là “cửu”, trùng âm với chữ có nghĩa lâu dài.
Một số ý nghĩa đến từ cách đọc của từng vùng: số tám “bát” được nói là gần âm với “phát”. Những liên hệ này lan rộng trong đời sống, nên người mua tranh ở Việt Nam hay nghe “bát mã là phát đạt”. Biết vậy để hiểu, không cần coi là quy tắc.
Khi ghép nhiều hình đồng âm lại, tranh thành một câu chúc. Sen với cá là “liên niên hữu dư”, năm nào cũng dư. Hươu với hạc dưới gốc tùng là chúc vừa có lộc vừa sống lâu. Đọc tranh truyền thống vì thế giống như đọc một câu đố chữ.
Lối chơi chữ này không truyền được sang ngôn ngữ khác. Tặng tranh cho người nước ngoài, nên giải thích bằng một tấm thiệp; hoặc chọn đề tài có ý nghĩa thị giác ai cũng hiểu như núi sông, thuyền buồm, ngựa phi.
Nhóm tài lộc, công danh: ngựa, cá, thuyền
Ba đề tài được đặt nhiều nhất ở xưởng tranh đá đều thuộc nhóm này, vì chúng gắn với công việc và làm ăn. Đàn ngựa mang lời chúc thành công nhanh; về số ngựa và hướng ngựa, đọc thêm ý nghĩa tranh mã đáo thành công và cách chọn số ngựa.
Chín con cá quây quần mang lời chúc dư dả và sum họp, hợp không gian gia đình hơn là văn phòng. Những quan niệm về con cá đen và hướng cá bơi được nói kỹ trong bài tranh cửu ngư quần hội.
Con thuyền căng buồm là lời chúc suôn sẻ cho người buôn bán, vận tải; quan niệm về hướng mũi thuyền có trong bài tranh thuận buồm xuôi gió. Cá chép vượt vũ môn thì nghiêng về học hành, vượt khó, hợp phòng học của con cái.
Điểm chung của nhóm này là hình ảnh chuyển động: ngựa phi, cá bơi, thuyền lướt. Vì thế chúng cần khoảng thở phía trước trong bố cục và khi treo, và quan niệm phổ biến là để chúng hướng vào trong nhà.
Nhóm chúc thọ và gia đạo: tùng hạc, hươu, đôi chim
Cây tùng xanh quanh năm, chịu được sương gió, nên tượng trưng cho sự bền bỉ, sống lâu. Chim hạc trong văn hoá Á Đông gắn với hình ảnh tiên ông và tuổi thọ. Tùng và hạc đi cùng nhau là đề tài chúc thọ kinh điển, gọi là “tùng hạc diên niên”, rất hợp quà mừng thọ ông bà, cha mẹ.
Hươu, với âm “lộc”, thường được thêm vào tranh tùng hạc để lời chúc có cả lộc lẫn thọ. Bức tranh tùng, hạc, hươu bên dòng suối là món quà mừng thọ trang trọng mà vẫn nhẹ nhàng.
Đôi chim, đôi hạc, đôi uyên ương là hình ảnh vợ chồng hoà hợp, hay chọn làm quà cưới hoặc treo phòng của vợ chồng. Quan niệm phổ biến là chọn hình ảnh có đôi, không chọn con chim lẻ cho những dịp này.
Nhóm này hợp với người lớn tuổi và không gian gia đình. Màu sắc thường dịu: trắng của hạc, xanh của tùng, nâu của hươu, nên tranh đá ở nhóm này đẹp nhất khi thợ chọn đá trắng có vân nhẹ cho lông hạc và đá xanh có vân như lá kim cho tán tùng.
Nhóm phẩm cách và thanh tao: sen, tứ quý, trúc, mai
Hoa sen. Thanh cao giữa bùn lầy, gắn với ca dao và Phật giáo; hợp phòng trà, phòng đọc, phòng thờ.
Mai. Nở giữa giá lạnh cuối đông, báo hiệu mùa xuân; tượng trưng cho sự kiên cường và khởi đầu.
Lan. Hương thầm, mọc nơi khuất; tượng trưng cho người thanh lịch, kín đáo.
Cúc. Nở mùa thu, bền màu; tượng trưng cho sự bền chí, ẩn dật.
Trúc. Thẳng, có đốt, ruột rỗng; tượng trưng người quân tử ngay thẳng, khiêm nhường.
Bộ tứ quý. Mai, lan, cúc, trúc tương ứng bốn mùa; có nơi dùng tùng, cúc, trúc, mai. Thường làm bốn bức treo cạnh nhau.
Mẫu đơn. Hoa to, rực rỡ, được gọi là vua các loài hoa; ý phú quý, sung túc, hợp phòng khách.
Thư pháp chữ Phúc, Tâm, Nhẫn. Tranh chữ bằng đá cũng có; nên nhờ người hiểu chữ kiểm nét trước khi đặt làm.
Đề tài “mạnh”: hổ, đại bàng và những điều nên cân nhắc
Hổ và đại bàng là hai đề tài mạnh mẽ, được nhiều người kinh doanh yêu thích. Hổ là chúa sơn lâm, tượng trưng uy dũng, che chở, trấn giữ. Đại bàng tung cánh gắn với câu “đại triển hồng đồ”, mở rộng cơ đồ lớn, hợp phòng giám đốc, văn phòng công ty.
Vì mạnh nên hai đề tài này hay đi kèm những lời khuyên cân nhắc. Có người không treo tranh hổ trong nhà có trẻ nhỏ hoặc trong phòng ngủ, vì cảm giác dữ dằn; có người chọn hổ ở tư thế nằm, ngồi thay vì gầm, vồ. Với đại bàng, nhiều người chọn hình ảnh bay lượn trên núi hơn là cảnh đại bàng quắp mồi.
Đây là những cân nhắc về cảm giác trong không gian sống, đáng nghe. Nhưng không nên để chúng thành nỗi lo. Treo một bức hổ trong phòng khách không gây ra điều gì xấu; nếu thấy không thoải mái thì chọn đề tài khác, vậy thôi.
Về tay nghề, hổ và đại bàng là hai đề tài khó: lông hổ có vằn phải theo khối cơ, lông vũ đại bàng phải xếp lớp. Bức làm vụng ở hai đề tài này trông rất rõ, nên càng phải soi kỹ.
Đọc ý nghĩa một bức tranh cụ thể
Áp dụng cho mọi đề tài, giúp hiểu đúng lời chúc mà bức tranh mang theo.
- Xác định đề tài chính. Con vật, loài hoa hay cảnh vật nào chiếm trung tâm.
- Đếm số lượng. Số ngựa, số cá, số chim; nhớ rằng con số thường mang nghĩa đồng âm.
- Xem hướng chuyển động. Hướng vào hay hướng ra, lên hay xuống.
- Tìm vật đi kèm. Sen bên cá, hươu dưới tùng, mặt trời sau thuyền; mỗi vật thêm một vế cho lời chúc.
- Xem tư thế, trạng thái. Hoa nở hay nụ, thuyền đi hay đậu, hổ nằm hay gầm.
- Đọc chữ đề nếu có. Nhiều bức có câu chữ Hán hoặc chữ Việt nói thẳng lời chúc.
- Ghép lại thành một câu. Ví dụ: chín con cá đỏ bơi quanh sen, hướng vào trong, nghĩa là chúc gia đình năm nào cũng dư dả, sum họp.
Ví dụ: ba bức tranh, ba lời chúc
Bức thứ nhất: tùng già bên suối, hai con hạc đứng dưới gốc, một con hươu cúi uống nước. Đọc ra: tùng và hạc chúc sống lâu, đôi hạc gợi vợ chồng cùng thọ, hươu thêm lộc. Đây là món quà mừng thọ trọn vẹn cho ông bà còn đủ đôi.
Bức thứ hai: một con thuyền buồm vàng hướng vào bờ, mặt trời mọc phía sau, biển êm. Đọc ra: khởi đầu thuận lợi, chở lộc vào. Hợp quà khai trương công ty thương mại, treo ở sảnh đối diện cửa.
Bức thứ ba: bộ bốn bức mai, lan, cúc, trúc. Đọc ra: bốn mùa trọn vẹn, và lời nhắc về phẩm cách. Hợp hành lang dài hoặc phòng khách của người thích sự thanh nhã; tặng thầy cô, người lớn có học thức thường được quý.
Ở cả ba ví dụ, ý nghĩa được đọc từ chính những gì có trong tranh, không cần ai “phán”. Biết cách đọc thì người mua tự đánh giá được lời giới thiệu của người bán có đúng không.
Sai lầm thường gặp khi chọn tranh theo ý nghĩa
Chọn theo tên gọi, quên nhìn tranh. Đề tài hay mà bức làm vụng thì treo lên vẫn không đẹp.
Tin lời hứa tài lộc. Ý nghĩa là lời chúc văn hoá, không phải cam kết; đừng trả thêm tiền vì lời hứa.
Tặng sai dịp. Tranh đàn ngựa phi cho mừng thọ, tranh hổ gầm cho quà cưới: ý nghĩa không sai nhưng không hợp dịp.
Nhồi quá nhiều đề tài vào một bức. Thuyền, ngựa, cá, mẫu đơn cùng một khung thành rối mắt, lời chúc mất trọng tâm.
Bỏ qua cảm giác của người ở. Người trong nhà thấy tranh dữ, thấy nặng nề thì ý nghĩa đẹp tới đâu cũng thành phiền.
Lo lắng vì “chọn sai”. Không có đề tài nào gây xui; không hợp thì đổi chỗ treo hoặc đổi tranh.
Chọn hình tượng tôn giáo không phù hợp. Tặng tranh mang biểu tượng của một tôn giáo cho người theo tôn giáo khác dễ gây khó xử.
Quên kích thước. Một đề tài hay nhưng khổ không vừa tường thì không treo được.
Khi nào nên hỏi người có hiểu biết chuyên môn
Hỏi người hiểu chữ Hán. Khi tranh có câu đề hoặc thư pháp, để chắc nghĩa và nét chữ đúng.
Hỏi nhà chùa, nhà thờ. Khi tranh có hình tượng tôn giáo hoặc định treo ở không gian thờ tự.
Hỏi người lớn trong gia đình. Khi chọn tranh cho phòng thờ hoặc quà mừng thọ, vì mỗi nhà có tập quán riêng.
Hỏi người làm nghề tranh đá. Khi cần đánh giá một đề tài có làm đẹp được ở khổ mình muốn không.
Hỏi kiến trúc sư, người làm nội thất. Khi tranh lớn, cần phối với ánh sáng và màu tường.
Đọc thêm từ nguồn văn hoá đáng tin. Sách về mỹ thuật truyền thống, bảo tàng, thay vì chỉ nghe người bán.
Không cần “thầy” phán. Chọn tranh theo ý nghĩa văn hoá không đòi hỏi xem tuổi hay lập đàn.
Câu hỏi thường gặp
Đề tài tranh đá quý nào hợp làm quà mừng thọ?
Tùng hạc là đề tài chúc thọ kinh điển, thường thêm hươu để có cả lộc. Phong cảnh yên bình và cảnh quê cũng hợp người lớn tuổi.
Tranh hổ có nên treo trong nhà?
Có người treo ở phòng khách, văn phòng vì ý nghĩa uy dũng, trấn giữ. Nhiều gia đình có trẻ nhỏ chọn tư thế hổ nằm, ngồi hoặc chọn đề tài khác cho phòng ngủ; đây là cân nhắc về cảm giác, không phải điều cấm.
Tranh mẫu đơn có ý nghĩa gì?
Mẫu đơn là biểu tượng của phú quý, sung túc, được coi là vua các loài hoa. Tranh mẫu đơn hay chọn cho phòng khách và quà tân gia.
Tứ quý gồm những loài cây nào?
Phổ biến là mai, lan, cúc, trúc, tương ứng bốn mùa; có nơi dùng tùng, cúc, trúc, mai. Bộ tứ quý thường làm bốn bức treo cạnh nhau.
Vì sao tranh hươu mang ý nghĩa lộc?
Vì con hươu gọi theo chữ Hán là “lộc”, trùng âm với chữ “lộc” là bổng lộc, may mắn. Đây là một ví dụ của lối chơi chữ đồng âm rất phổ biến trong tranh truyền thống.
Một bức tranh có nhiều đề tài có tốt hơn không?
Không nhất thiết. Kết hợp hai ba đề tài hài hoà như sen với cá làm lời chúc đầy đủ hơn, nhưng nhồi quá nhiều thì rối mắt và mất trọng tâm.